Bệnh giảm bạch cầu hạt do đâu và điều trị như thế nào?

Giảm bạch cầu hạt

Trong chứng giảm bạch cầu hạt, cơ thể người bệnh có mức bạch cầu hạt thấp. Bạch cầu hạt là một loại bạch cầu giúp cơ thể chống lại sự nhiễm trùng. Chúng được tạo ra trong tủy xương – mô xốp thường thấy bên trong các xương lớn.

Bạch cầu hạt chống lại sự nhiễm trùng bằng cách tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh. Chúng bao gồm các vi khuẩn, vi nấm hoặc nấm men gây hại. Điều này có nghĩa là những người bị giảm bạch cầu hạt dễ bị nhiễm trùng nặng. Những người có lượng bạch cầu hạt rất thấp hoặc bị giảm bạch cầu hạt kéo dài có thể dễ bị nhiễm trùng hơn.

Giảm bạch cầu hạt xảy ra ở khoảng một nửa số bệnh nhân ung thư được điều trị hóa chất (hóa trị). Nó còn là một tình trạng phổ biến ở bệnh ung thư máu.

Bệnh giảm bạch cầu là gì?

Bệnh giảm bạch cầu là tình trạng số lượng bạch cầu thấp bất thường. Bạch cầu trung tính là một dạng phổ biến của bạch cầu được tạo ra từ tủy xương, di chuyển theo dòng máu và đến các khu vực bị nhiễm trùng. Chúng tiết ra các chất tiêu diệt vi sinh vật xâm nhập giúp chống lại nhiễm trùng, đặc biệt nếu là tình trạng do vi khuẩn gây ra. Do đó, bài viết này sẽ tập trung đề cập đến bạch cầu trung tính.

Đối với người lớn, số lượng bạch cầu trung tính trên mỗi microlit (µl) máu dưới 1500 thì được coi là bạch cầu giảm. Đối với trẻ em, số lượng tế bào bạch cầu cho thấy dấu hiệu giảm bạch cầu khác nhau theo độ tuổi.

Một số người có số lượng bạch cầu trung tính thấp hơn mức trung bình nhưng không làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Trong những trường hợp này, giảm bạch cầu trung tính không phải là vấn đề đáng lo ngại. Số lượng bạch cầu trung tính dưới 1000/µl và đặc biệt là dưới 500/µl uôn được coi là giảm bạch cầu trung tính, mà ngay cả những vi khuẩn bình thường từ miệng và đường tiêu hóa cũng có thể gây nhiễm trùng nghiêm trọng.

Có 4 loại giảm bạch cầu trung tính:

Bẩm sinh.

Giảm bạch cầu trung tính do bẩm sinh hay còn gọi là bệnh Kostmann, khiến cho bạch cầu trung tính ở mức rất thấp. Một số trường hợp không xuất hiện bạch cầu trung tính. Tình trạng này khiến trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ bị nhiễm trùng nghiêm trọng.

Cyclic.

Giảm bạch cầu trung tính Cyclic cũng là tình trạng bẩm sinh, gây ra sự thay đổi bạch cầu trung tính trong một chu kỳ 21 ngày. Bạch cầu giảm từ mức thông thường xuống mức thấp. Một giai đoạn giảm bạch cầu có thể kéo dài một vài ngày. Mức bình thường xuất hiện trong khoảng thời gian còn lại của chu kỳ. Chu kỳ sau đó sẽ bắt đầu lại từ đầu.

Bệnh tự miễn.

Ở bệnh giảm bạch cầu tự miễn, cơ thể tự làm cho các kháng thể chống lại các tế bào bạch cầu trung tính. Những kháng thể giết chết các bạch cầu trung tính, dẫn đến giảm bạch cầu.

Tự phát.

Giảm bạch cầu tự phát hình thành bất cứ lúc nào trong cuộc sống và có thể ảnh hưởng đến mọi đối tượng. Nguyên nhân gây bệnh hiện chưa được biết rõ.

Giảm bạch cầu hạt

Nguyên nhân gây giảm bạch cầu hạt

Các yếu tố liên quan đến ung thư và điều trị ung thư có thể gây giảm bạch cầu hạt:

  • Một số loại thuốc hóa trị liệu;
  • Các bệnh ung thư ảnh hưởng trực tiếp đến tủy xương, chẳng hạn như bệnh ung thư máu, u lympho và đa u tủy xương;
  • Ung thư đã di căn tủy;
  • Xạ trị nhiều vùng trên cơ thể hoặc xương tại khung chậu, chân, ngực, hoặc bụng.

Những bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao bị giảm bạch cầu hạt là

  • Những người từ 70 tuổi trở lên;
  • Những người có hệ miễn dịch suy giảm từ các nguyên nhân khác, như nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) hoặc ghép tạng;
  • Một số liệu pháp ung thư cũng có khả năng làm suy giảm bạch cầu hạt cao hơn liệu pháp khác.

Chu kỳ thông thường của giảm bạch cầu hạt liên quan đến hóa trị liệu.

Loại hoặc liều hóa trị sẽ ảnh hưởng thời điểm giảm bạch cầu hạt. Thông thường, bạch cầu hạt bắt đầu giảm khoảng một tuần sau khi bắt đầu hóa trị và giảm đến mức thấp nhất vào khoảng 7 đến 14 ngày sau khi điều trị. Điểm thấp này được gọi là điểm đáy (nadir), thời điểm này bạn nguy cơ bị nhiễm trùng là cao nhất.

Số lượng bạch cầu hạt sau đó bắt đầu tăng trở lại khi tủy xương phục hồi khả năng sản xuất bạch cầu. Tuy nhiên, có thể mất 3 – 4 tuần để đạt đến trị số/mức bạch cầu bình thường. Tại thời điểm đó, cơ thể bạn đã sẵn sàng cho đợt hóa trị tiếp theo. Nếu bạn đã trải qua một vài đợt hóa trị, cơ thể có thể phải mất nhiều thời gian hơn để bắt đầu tạo ra lượng bạch cầu hạt như bình thường.

Xử trí và điều trị giảm bạch cầu hạt

Điều trị để làm giảm các triệu chứng và các phản ứng phụ là một phần quan trọng trong việc chăm sóc bệnh ung thư. Cách tiếp cận này được gọi là chăm sóc giảm nhẹ. Hãy thảo luận với nhóm chăm sóc sức khoẻ của bạn về bất kỳ triệu chứng nào hoặc những thay đổi trong các triệu chứng mà bạn đang cảm nhận.

Nếu bạn bị giảm bạch cầu hạt, hãy thực hiện các biện pháp để ngăn ngừa nhiễm trùng. Ví dụ:

  • Tránh đến gần những người bị cảm lạnh, cúm, hoặc các bệnh khác.
  • Rửa tay thường xuyên, đặc biệt là trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
  • Trong thời kỳ giảm bạch cầu hạt kéo dài, bác sĩ có thể đề nghị dùng kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng.

Ngoài ra, giảm bạch cầu hạt có thể ảnh hưởng đến chu kì tiếp theo của hóa trị liệu. Đặc biệt nếu mức bạch cầu hạt không trở lại bình thường kịp thời, bác sĩ có thể trì hoãn hoặc giảm liều hóa trị.

Đối với trường hợp giảm bạch cầu kèm theo sốt, bác sĩ có thể chỉ định dùng yếu tố kích thích tạo bạch cầu. Những loại thuốc này giúp cơ thể tạo ra nhiều bạch cầu hơn. Bạn có thể đọc thêm hướng dẫn của ASCO về các yếu tố kích thích tạo bạch cầu.

Giảm bạch cầu hạt

Phát hiện giảm bạch cầu bằng cách nào?

Giảm bạch cầu có thể được chẩn đoán bằng cách xét nghiệm máu để kiểm tra toàn bộ máu. Các chỉ số xét nghiệm bạch cầu bao gồm:

  • WBC – Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu: giá trị trung bình khoảng 4.300 – 10.800 tế bào/mm3. WBC giảm trong các trường hợp như thiếu máu bất sản, nhiễm siêu vi (HIV, virus viêm gan), thiếu vitamin B12 hoặc folate, dùng một số thuốc như phenothiazine, chloramphenicol,..
  • LYM – Bạch cầu Lympho (là các tế bào có khả năng miễn dịch bao gồm lympho T và lympho B): giá trị trung bình khoảng từ 20 – 50%. Giảm bạch cầu Lympho trong trường hợp bị nhiễm HIV/AIDS, lao, ung thư, thương hàn nặng, sốt rét,…
  • NEUT – Bạch cầu trung tính (giúp chống nhiễm nấm và vi khuẩn): giá trị trung bình trong khoảng từ 60 – 66%. Giảm bạch cầu trung tính trong trường hợp nhiễm thiếu máu bất sản, sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch, nhiễm độc kim loại nặng…
  • MON – Bạch cầu mono (có vai trò chống vi khuẩn, virus, nấm và hàn gắn mô bị tổn thương do viêm): giá trị trung bình khoảng từ 4 – 8%. Giảm bạch cầu mono trong trường hợp thiếu máu bất sản hoặc sử dụng corticosteroid.
  • EOS – Bạch cầu ái toan (có tác dụng chống ký sinh trùng): giá trị trung bình khoảng từ 0,1 – 7%. Giảm bạch cầu ái toan là do sử dụng corticosteroid.
  • BASO – Bạch cầu ái kiềm (có vai trò quan trọng trong các phản ứng dị ứng): giá trị trung bình khoảng từ 0,1 – 2,5%. Giảm bạch cầu ái kiềm có thể là do tổn thương tủy xương, stress, hoặc quá mẫn….

 

Các tìm kiếm liên quan

  • Sốt giảm bạch cầu hạt
  • Bạch cầu hạt là gì
  • Bạch cầu giảm nên ăn gì
  • Bệnh giảm bạch cầu ở mèo
  • Bạch cầu giảm ở trẻ em
  • Bạch cầu hạt trung tính tăng
  • Bệnh bạch cầu
  • Chống tụt bạch cầu trong quá trình hóa trị

Nội dung liên quan:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *